DC&PT - Thời Sự 2018

NHÀ HÁT NGH̀N TỶ

HAY MÔI TRƯỜNG NGHỆ THUẬT NGH̀N TỶ?

Lê Quang

 

Bài viết này cố gắng bao quát hai khía cạnh hẹp của mối quan hệ đặc biệt giữa các Nhà hát và Thành phố, trong thời gian gần đây đă thu hút được sự chú ư của dư luận đối với dự án xây nhà hát ngh́n tỷ tại Thủ Thiêm.

Trước hết, Nhà hát là yếu tố quan trọng trong thiết kế tổng thể cho mọi đô thị. Mối quan hệ của nó với một Thành phố đă được xác lập từ thời cổ đại, khi mà các thị trấn và thành phố thịnh vượng tự hào về những ṭa nhà công cộng tráng lệ trong đó có các khán đường công cộng ( khán pḥng ngoài trời – Amphitheater) là những ví dụ dễ thấy. Ở thời ḱ Phục Hưng, lịch sử cho thấy rằng đă xuất hiện những sự quan tâm mới trong các nhà hát, nơi mà không chỉ là nơi diễn ra các vở kịch mà c̣n là nơi hấp dẫn đối với giới thượng lưu. Có một thực tế ở giai đoạn này, đó là khi một thành phố trở nên dư thừa về của cải vật chất và cơ sở hạ tầng được đầu tư dài hạn đă đạt đến độ chín của nó th́ các nhà hát xuất hiện như một sự củng cố về các khoản đầu tư trung hạn. Mặt khác, Nhà hát c̣n là đại diện cho tinh hoa về văn hóa, nghệ thuật- những giá trị mà tiền bạc không thể mua được. Do đó, mặc dù có bản chất là một Kiến trúc bất động (immobility architecture) nhưng Nhà hát đă tạo ra một dạng sống trong ḷng nó và ở cả ở bên ngoài nó. Cho dù Nhà hát nằm ở trung tâm hoặc ở bên lề của một Đô thị th́ nó luôn có liên quan sâu sắc đến cấu trúc và sự tương tác có ư nghĩa dân sự.

Sang đến thời hiện đại, các Nhà hát dường như rũ bỏ lớp vỏ diêm dúa, hào nhoáng – vốn dành để tượng trưng cho sự dưa thừa về của cải vật chất của giới thượng lưu; thay vào đó, các nhà hát được thiết kế để hướng tới số đông quần chúng và vẫn giữ được khả năng làm việc như một điểm nhấn của Đô thị. Các ví dụ có thể lấy ra như Nhà hát Sydney hoặc nhà hát Oslo với đường dốc thẳng từ vịnh biển lên đến mái, nó cung cấp cho quần chúng một loạt các khả năng cho hoạt động ngoài trời, hoàn toàn tự do và cung cấp chất lượng cuộc sống ở mức cao một cách miễn phí ( đối với các không gian ngoài trời ). Gần đây, sau 20 năm đàm phán xây dựng, nhà hát ElbPhilharmonie tại vịnh Hamburg do Văn pḥng KTS Thụy Sĩ Herzog & de Meuron thiết kế đă khánh thành với kinh phí lên tới 789 triệu Euro ( tương đương 22 ngh́n tỷ VND). Sau khi hoàn thành, nhà hát này đă đón hơn 4 triệu lượt khách tới xem chỉ trong năm đầu tiên (tương đương một ga hàng không). Cũng giống với nhà hát Oslo, Elbphilharmonie cung cấp một platform ở trên mái của khu vực hành chính , ra vào hoàn toàn miễn phí và tạo ra một điểm nh́n toàn cảnh vịnh cảng và đường chân trời của cả thành phố. Trong những tháng đầu đi vào hoạt động, cá nhân ḿnh có kiếm được một vé mời đi xem kịch ở nhà hát này. Khi nói chuyện với bạn bè, các bạn rất bất ngờ và tỏ ra ghen tị, sau đó ḿnh kiểm tra lại và được biết rằng vé vào xem tất cả các show diễn của nhà hát đă được đặt hết trong khoảng 2 năm trở lại. Qua ví dụ nhỏ đó, ta thấy rằng một nhà hát gần như được coi là một dạng văn bản đô thị, nó có tính đại diện và sẽ thành công khi đạt được tính đại diện.

Đằng sau sự thành công cả về khía cạnh văn hóa vẫn kinh tế của các Nhà hát nổi tiếng trên, chúng ta có thể nhận ra rằng xuyên suốt chiều dài lịch sử, Nhà hát, được coi là một hạng mục đầu tư trung hạn trong một Đô thị khi mà Đô thị đó đă đạt đến độ chín trong các khoản đầu tư dài hạn, như cơ sở hạ tầng, đường xá, không gian công cộng. Nói như các thầy giáo Kiến trúc sư già cả, th́ Nhà hát nó giống như quả sơ-ri nằm trên đỉnh của một chiếc bánh ga-tô. Quả sơ-ri đó luôn là thứ đầu tiên mà người ta nh́n vào và xuưt xoa tán thưởng nhưng cần phải nhớ là nó luôn nằm trên 1 chiếc bánh ga-tô ( với ngụ ư về các khoản đầu tư dài hạn, tạo nền móng của một đô thị). Và hẳn nhiên, ta sẽ không bắt gặp một quả sơ-ri nào nằm trên những miếng vụn bánh, hoặc có thể cũng có nếu ai đó cố làm, nhưng người ta sẽ chẳng bao giờ để tâm tới nó. Nh́n vào khối đô thị Hamburg, ta thấy đó là cả một khối thống nhất, đồng bộ từ cơ sở hạ tầng, phúc lợi, nhà ở, hệ thống giao thông công cộng và không gian công cộng. Tất cả mọi thứ được nghiên cứu bài bản và thực hiện triệt để qua nhiều năm với nguồn vốn dồi dào. Du khách khi đến thăm thành phố, điều đầu tiên họ nghĩ đến có thể chính là Nhà hát Elbphilharmonie nằm trên mũi vịnh với tên gọi Hafencity (thành phố Cảng). Tất nhiên, đó là trong con mắt của quần chúng, của khách du lịch phương xa. Người làm quản lư và quy hoạch th́ lại không nên có cách nh́n đó. Nói cách khác, nhà hát Elbphilharmonie là kết cục trong cả một tiến tŕnh phát triển của khu vực Hamburg Hafencity. Cá nhân ḿnh cảm thấy choáng ngợp trước tổng thể khu vực này hơn, đó là một cách tiếp cận rất khôn ngoan ở khía cạnh đô thị khi những KTS đă đục khoét vào bên trong đường bờ sông để tăng chiều dài của nó lên gấp 6 lần, kéo theo đó là việc xây dựng những khu nhà ở, đường xá, văn pḥng, trường học, bệnh viện – trên nền của một khu công nghiệp cũ đă quá hạn sử dụng (Hamburg trước đây là một trung tâm công nghiệp). Việc tăng chiều dài đường mặt nước (waterfront) đă biến cả khu vực thành một mỏ vàng cho đầu tư và kêu gọi vốn từ khối vốn cá nhân. Nhờ vậy, cả khu vực này đă chuyển ḿnh mạnh mẽ cả ở khía cạnh kinh tế lẫn khía cạnh lịch sử khi mà nó vẫn giữ được bản sắc là một thành phố hậu công nghiệp. Và rồi khi tất cả những đầu tư dài hạn đó đă đạt đến độ chín ở khía cạnh phát triển đô thị th́ người ta mới đặt lên trên nó, tọa lạc tại một mũi vịnh – một lâu đài bằng kính, chính là khối nhà hát Elbphilharmonie được thiết kế bởi Herzog & de Meuron, một trong những Văn pḥng Kiến trúc tên tuổi nhất Thế giới (Hai KTS này chính là những người đă thiết kế ra Điểu Sào Quốc gia Thể dục trường tại thê vận hội Bắc Kinh 2008) và phải nói thêm là đồ án đă được thực hiện trong một thời gian dài.

Tóm lại, không khó để chúng ta nhận thấy rằng Hamburg và Nhà hát ngh́n tỷ của nó là một ví dụ điển h́nh cho phương pháp phát triển và phát huy các nguồn lực vốn có của một đô thị với những mục tiêu dài hạn và trung hạn cụ thể. Người Đức đă thành công với cách làm bài bản đó. Mặc dù Elbphilharmonie cho đến hôm nay, sau 2 năm đi vào hoạt động, vẫn c̣n hứng chịu không ít chỉ trích rằng nó là một công tŕnh quá đắt đỏ và tốn kém nhất trong lịch sử loài người, nhưng cả Thế Giới vẫn phải thừa nhận rằng nó là một công tŕnh đẹp và sự thành công của nó có tính chất liên ngành.

Đó là khía cạnh thứ Nhất đối với vai tṛ của Nhà hát trong một Đô thị.

Trở lại với bán đảo Thủ Thiêm tại Tp. HCM. Ta thấy có những vấn đề trái ngược : đầu tư dài hạn chưa có, chưa được lập kế hoạch, có một vài kế hoạch được lập ra trong quá khứ nhưng thực tế đă chứng minh rằng chúng không làm việc được (bởi v́ nếu nó là kế hoạch tốt th́ nó đă xảy ra rồi). Theo nhiều nguồn tin chính thống, Cấp quản lư thậm chí yếu kém tới mức đă làm mất bản đồ quy hoạch ?!. Thêm vào đó, những nhức nhối về giải phóng mặt bằng và những sai phạm rơ ràng từ Sở, Ban, Ngành đă bộc lộ và chính thức trở thành khủng hoảng về sở hữu đất trong nhiều năm qua. Cho nên không khó để nhận ra rằng việc phê duyệt quyết định xây dựng nhà hát Thủ Thiêm đă một lần nữa thể hiện sai lầm một cách cố hữu của cấp quản lư. Có một số nhận định cho rằng TP muốn xây dựng một công tŕnh công cộng tại đây, kéo theo nhân sự công cộng đổ vào khu vực th́ sẽ làm ch́m đi những lùm xùm về sở hữu đất (vốn dĩ đă kéo dài hàng chục năm) với các hộ dân ngụ cư . Thành thực mà nói, nhận định đó là hoàn toàn có cơ sở bởi việc công cộng hóa các khu vực đất tranh chấp là phương pháp được coi là khá phổ biến của nhà cầm quyền đương thời trong khủng hoảng đất đai. Bởi điều này sẽ đần đẩy một cộng đồng yếu thế đang chịu oan ức vào thế bị cô lập. Tất nhiên, nh́n theo hướng nhân đạo hơn, có thể giới chức Tp.HCM chưa hẳn đă có dă tâm như vậy, có thể họ cũng có những thiên hướng tốt đẹp về Văn hóa Nghệ thuật th́ sao?. Ngay cả trong t́nh huống bớt tồi tệ đó, th́ kế hoạch mà họ đang phê duyệt và triển khai đă hoàn toàn sai cả ở yếu tố tầm nh́n đô thị lẫn yếu tố kinh tế. Như đă nói ở trên, đó có thể coi là những sai lầm căn bản có tính hệ thống. Nếu bỏ qua các vấn đề về dă tâm vốn được báo chí chính thống một mực phủ nhận, th́ đây là vấn đề về trí tuệ và năng lực.

Rời xa khỏi khía cạnh thứ Nhất, ta đi vào khía cạnh thứ Hai của một Nhà hát, đó là tương tác văn hóa của nó đối với cộng đồng. Ở khía cạnh này, ḿnh xin lấy ví dụ về thành phố Berlin.

Berlin cũng có dân số cao đến 4 triệu người (gấp đôi Hamburg) nhưng họ không xây Nhà hát ngh́n tỷ mới tại đây, bởi các hệ thống đầu tư dài hạn chưa đạt đến độ chín. Thay vào đó, họ tập trung nâng cấp, cải tạo, làm mới các Nhà hát cũ có giá trị lịch sử , ví dụ như nhà hát Friedrichstad-Palast, nơi vẫn diễn ra các buổi biểu diễn tầm cỡ thế giới với chuyên môn cao. Hoặc như Cung thể thao Mercedez được sử dụng như không gian đa chức năng và có thể tổ chức các buổi diễn nhạc, kịch rất lớn. Hồi đầu năm ḿnh có đi xem ḥa nhạc Game of Thrones tại đây, khán pḥng 12 ngh́n chỗ ngồi không có lấy một chỗ trống. Ngoài ra thành phố c̣n có một số lượng lớn các nhà hát vừa và nhỏ, nhà hát tư nhân, các cụm rạp chiếu phim nghệ thuật, diễn kịch như cụm rạp Babylon…. Thậm chí ở ngay đằng sau nhà ḿnh cũng có một Nhà hát nhỏ được tạo ra rồi hoạt động trong một khu tập thể cũ, nó là nơi để các nghệ sĩ trẻ có chỗ tập luyện và giới thiệu nghệ thuật của họ với một số lượng khán giả nhất định. Nói cách khác, Nhà hát ngh́n tỷ của Berlin cũng có tồn tại nhưng thay v́ ở một chỗ th́ nó ở khắp mọi nơi, dưới nhiều h́nh thức và quy cách hoạt động. Người ta tự tạo ra các không gian tương tác nghệ thuật phù hợp với khả năng, họ thể hiện cam kết theo đuổi lâu dài và rồi nhận được không ít sự giúp đỡ và động viên từ cộng đồng và chính quyền sở tại. Nói cách khác, họ đưa Nhà hát đến với từng góc phố, đưa các bài hát, vở kịch đến gần với người xem và nhờ đó những Nhà hát nhỏ này sinh sôi, phát triển trong một môi trường bền vững, lành mạnh. Và sẽ thật nực cười khi chúng ta nói rằng các hoạt động nghiên cứu và phát triển âm nhạc (từ tự do cho đến hàn lâm) ở Berlin yếu thế hơn so với Hamburg. Trái lại, chính thành phố Berlin mới được coi là trung tâm âm nhạc, vũ kịch của cả châu Âu bởi môi trường đầu tư cởi mở, nét duyên dáng và sự sôi động của nó hấp dẫn tất cả các nghệ sĩ chân chính trên toàn Thế giới. Người nghệ sĩ, họ không cần một nhà hát lớn, thay vào đó, họ cần có khán giả và trên hết, họ cần được phát triển thứ Nghệ thuật của chính họ.

Điều đó đă chỉ ra rằng, việc có hay không có một nhà hát ngh́n tỷ không hề quyết định môi trường thực hành Văn hóa, Nghệ thuật tại một thành phố. Môi trường thực hành Văn-Nghệ được định hướng và dẫn dắt bởi các cơ chế và chính sách. Văn hóa-Nghệ thuật luôn đ̣i hỏi một cơ chế mở, tự do và khuyến khích tất cả các thành phần của nó hoạt động hết khả năng. Giới chức Tp.HCM th́ lại cho rằng chỉ cần xây Nhà hát ngh́n tỷ là sẽ có nền Văn hóa-Nghệ thuật phát triển!? Suy nghĩ đó c̣n thua cả suy nghĩ của một đứa trẻ. Có xây vài ba cái Nhà hát ngh́n tỷ mà vẫn c̣n tồn tại Sở Văn Hóa TP với chất lượng con người như hiện nay th́ xây xong cũng chỉ để tổ chức dăm ba tiệc cưới, chục cái Đại hội Công nhân Viên chức là cùng. Và đến khi các nhà hát không làm việc hiệu quả như mong đợi, chắc chắn họ sẽ quay sang đổ lỗi cho một thứ mơ hồ, được gọi là “cơ chế” –đứa con hoang chính họ đẻ ra nhưng chẳng bao giờ thừa nhận.

Trở lại năm 2015, đồ án Nhà hát nổi Holzmarkt trên sông Spree tại Berlin của cá nhân ḿnh thiết kế được giải thưởng và lọt vào ṿng phê duyệt của Thành phố. Tại thời điểm đó, ḿnh nhận ra rằng ngay cả với một đồ án nhỏ với nguồn vốn xă hội cũng thu hút được sự quan tâm của rất đông đảo các giới chức. Người ta thực hiện những cuộc họp rất nghiêm túc tại trung tâm hội nghị Messe Berlin với sự tham gia của những đạo diễn chỉ đạo thiết kế sân khấu hàng đầu. Qua đó ta thấy rằng Môi trường nghệ thuật lành mạnh nó thúc đẩy những người trẻ nhiều đến thế nào. Sự thúc đẩy đó là vô giá.

Trái lại. Không cần lấy ví dụ xa xôi, hăy nh́n vào Bảo Tàng Hà Nội với chi phí xây dựng 6 ngh́n tỷ đồng. Cho đến tận ngày hôm nay, sau 7 năm đi vào hoạt động th́ nó tổ chức được bao nhiêu triển lăm Nghệ thuật? bao nhiêu sự kiện Nghệ thuật? đơn vị vận hành lưu trữ thêm được bao nhiêu hiện vật? Bộ sưu tập các tác phẩm được tăng lên bao nhiêu? bao nhiêu dự án bảo tồn được thành lập? bao nhiêu nghệ sĩ trẻ nhận được tài trợ để phát triển sự nghiệp? kết nối được với bao nhiêu cơ sở nghệ thuật trên toàn Thế giới ?, đào tạo ra được bao nhiêu curator (nhà định hướng Nghệ thuật)? Tổ chức được bao nhiêu cuộc đấu giá tác phẩm? Bán được bao nhiêu tác phẩm? Khả năng tự tạo ra của cải và khả năng sinh lăi là bao nhiêu? …. Chẳng ngại ngần, ta khẳng định tất cả các thông số đó đều tiệm cận với số “0”. Thứ duy nhất không gần với số “0”, thẳng thắn mà nói, đó chính là chi phí vận hành và bảo tŕ công tŕnh, chi phí này, chắc chắn không ít hơn hơn 10 chữ số một năm. Ḿnh vẫn c̣n nhớ năm 2010, ḿnh đi thực tập cho Văn pḥng Gmp của CHLB Đức (chính là văn pḥng Kiến trúc đă thiết kế ra cái nhà bảo tàng này và cả Trung tâm hội nghị quốc gia), sếp tổng của VP, thầy Gerkan có dẫn cả nhóm sinh viên lâu nhâu bọn ḿnh đi thăm quan TT Hội nghị và Bảo tàng Hà Nội. Lúc đi qua TT Hội nghị thầy tỏ ra đau ḷng khi nh́n thấy người ta đang trang hoàng phần tiền sảnh một cách hơi ḷe loẹt để tổ chức một Đại hội Công nhân viên chức. Lúc sau, khi cả nhóm đi sang nhà bảo tàng, bọn ḿnh thấy thầy dường như vui hơn v́ công tŕnh lúc đó c̣n đang thi công dở dang chưa đi vào hoạt động. Ngày nay nếu có dịp gặp lại, ḿnh có lẽ không dám nói ra sự thật với thầy rằng, chí ít th́ cái TT Hội Nghị vào dịp vắng hội họp th́ nó c̣n tổ chức được đám cưới cho con cái các sếp to, c̣n bên nhà bảo tàng th́ người ta chả làm được ǵ. Và ta phải nh́n vào thực tế đó để rút ra các vấn đề về công tác vận hành. Công tŕnh Văn hóa, dù đẹp, dù sang đến mấy mà thiếu đi sự sống bên trong ḷng nó th́ cũng không ổn và tuyệt nhiên không phải cứ xây cho được cái bảo tàng to đẹp, hoành tráng th́ tự thân số lượng nghệ sĩ sẽ nhiều lên, nhiều mẫu vật hơn, có nhiều tranh hơn, nhiều tác phẩm điêu khắc hơn…. Tất cả những điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra khi chúng ta không tạo ra một cơ chế và môi trường cởi mở cho hoạt động nghệ thuật chân chính.

Có lần ḿnh mua TV mới, lúc đầu, cháu ḿnh rất thích v́ TV mới to, màn h́nh tinh thể lỏng và có khả năng chơi video độ phân giải cao, tuy nhiên một thời gian sau cháu chẳng màng đến nó nữa bởi chiếc TV mới không được cắm cáp truyền h́nh với các kênh mà cháu bé yêu thích. Cháu ḿnh quay trở lại xem chiếc TV nhỏ với những chương tŕnh thiếu nhi phù hợp với cháu. Một em bé 3 tuổi chẳng mất mấy thời gian để nhận ra rằng vấn đề không nằm ở kích cỡ.

Như vậy, qua hai khía cạnh hẹp của vai tṛ của Nhà hát đối với một Thành phố. Chúng ta nhận ra rằng, vào lúc này việc đầu tư ngh́n tỷ để xây Nhà hát ngh́n tỷ ở Thủ Thiêm là chưa phù hợp, thay vào đó, hăy đầu tư ngh́n tỷ để thúc đẩy hoạt động Văn hóa – Nghệ thuật một cách bài bản, tạo ra môi trường cởi mở và thân thiện cho người nghệ sĩ ( vốn tự nhận ḿnh là thấp cổ bé họng). Hăy đầu tư ngh́n tỷ để tạo ra những người Nghệ sĩ chân chính, và chính họ sẽ tạo ra Nghệ thuật chân chính và rồi tự khắc sẽ có Nhà hát hay Bảo tàng ngh́n tỷ. Hăy đầu tư để có những con người dám cất lên tiếng nói, tiếng hát, tiếng đàn của chính ḿnh, dám nhảy những điệu nhảy của chính ḿnh. Xây Nhà hát ngh́n tỷ để làm ǵ khi những “nghệ sĩ” của chúng ta vẫn im re trước những bất công, sai trái, vẫn co ro cúm rúm, bợ đỡ cường quyền? Xây Nhà hát ngh́n tỷ làm ǵ khi tất cả những thứ “nghệ thuật” được phê duyệt chỉ là thứ nghệ thuật nửa vời, được tạo ra bởi những người tự xưng là “nghệ sĩ”- đang ḍ dẫm trong đêm tối và phó mặc cho sự may rủi sẽ đưa ḿnh đến với cái nơi mà nơi đó vốn dĩ chỉ dành cho những kẻ can đảm và có đức tin?

Để kết lại xin trích dẫn lời của William Ralph Inge:

“ Nhà Hát? Hằn nhiên, nó là phản chiếu của cuộc đời và có lẽ chúng ta nên cải thiện cuộc đời của chúng ta trước khi nghĩ đến việc chúng ta có thể cải thiện bất cứ nhà hát nào hay không”

 

Trích: Viet-studies 11.10.18

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:  

            www.dcpt.org                                  

hay       www.dcvapt.net                  

                                                     

                                                     

Email: dcvapt@gmail.com

Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục